Hướng Đạo Việt Nam chịu ảnh huởng Nho Giáo

Thủa nhỏ khi mới bước vào thiếu đòan, được nghe các trưởng dạy những lời đầu tiên về phong cách cư xử sao cho đúng tư cách người Hướng Đạo, tôi cảm thấy đang được nhắc nhở những điều rất quen thuộc. Học ba lời hứa và 10 điều luật rồi, cần áp dụng ngay trong cung cách, thái độ của mình trong đời sống hằng ngày. Phải giữ đúng giờ hẹn. Không hấp tấp, không láu táu. Gặp đám tang phải ngừng chân, bỏ mũ cúi chào khi linh sàng nguời đã chết qua bên mình. Phải tập cử chỉ, lời nói chững chạc đường hoàng, thí dụ không vừa đi vừa ăn, nhất là khi đang đi ngoài đường.

Những bài học về hành vi, cử chỉ đó tôi đã được học trong gia đình. Sau khi Thầy tôi mất sớm thì có Mẹ tôi, các ông anh, bà chị, chú, bác vẫn hay căn dặn những điều như vậy. Gia đình tôi vốn sống trong truyền thống Nho Giáo nhiều đời (gia phả ghi lại từ thế kỷ 15). Những điều tôi được giáo huấn trong gia đình đều là do ảnh hưởng của Nho Giáo. Khi vào Hướng Đạo tôi cũng được các huynh trưởng dạy dỗ những điều giống hệt như đã được học ở nhà.

Thí dụ Chữ Tín. Bắt đầu từ anh đội trưởng của tôi, anh khoảng 15, chỉ hơn tôi 2 tuổi nhưng lúc nào cũng nhấn mạnh “Hẹn ai cũng phải đúng giờ." Chỉ hẹn gặp nhau đi chơi thôi, đến trễ mấy phút là anh Tuấn lắc đầu, nghiêm mặt trách:" Toàn đến trễ đấy nhé. " Giờ họp đội tất nhiên ai cũng phải tới đúng, không được trễ. Không có hình phạt nào để áp dụng cho người phạm lỗi, nhưng ai cũng thấy khi mình đến trễ thì tất cả các con mắt của cả đội nhìn mình, anh đội trưởng nhìn mình, cũng là một cách trừng phạt khiến mình từ nay phải cẩn thận hơn. Phải giữ lời hứa. Phải giữ chữ Tín.

Anh đội trưởng của tôi cũng học đuợc quy tắc đó khi vào Hướng Đạo, anh Thiếu trưởng dậy tất cả mọi người trọng chữ Tín. Điều luật đầu tiên nói rất khéo: “Ai cũng có thể tin lời nói của Hướng Đạo Sinh.” Không chỉ trích người thất hứa; không lên án hay kết tội để gây cho đứa trẻ mặc cảm tội lỗi. Luật Hướng Đạo bảo rằng: “Người Hướng Đạo Sinh sống như thế đấy: “ai cũng có thể tin lời nói của Hướng Đạo Sinh.” Anh chọn sống cách khác thì anh không phải là Hướng Đạo Sinh. Thế thôi!

Mà cách giáo dục đó rất hiệu nghiệm. Từ gần 60 năm nay, tôi cứ luôn bị ghép vào cái khuôn đó, mỗi khi hẹn với ai, việc lớn cũng như việc nhỏ. lúc nào cũng chăm chắm lo mình phải đúng giờ. Mà tôi nghĩ đây là một thói quen tốt. Nó không làm phiền người khác. Làm công việc chung với mọi người mà ai cũng biết giữ đúng hẹn thì mình làm việc dễ chịu lắm. Tinh thần mọi người lên cao. Chắc công việc sẽ có kết quả tốt hơn.

Trong đoàn Hoàng Diệu thời thiếu sinh của tôi. các huynh trưởng nói đến chữ Tín, một chữ Hán đã được Việt hóa một cách rất tự nhiên. Các bạn làm trưởng bây giờ có thể vẫn dùng từ đó.Tín, song song với tiếng địa phương của mình; thí dụ nếu các em nói tiếng Anh thì mình nói: “Mình phải giữ Chữ Tin, tức là Trust, Trusting!"

Không cần phải nhắc lại, ai cũng biết Nho Giáo đề cao chữ Tín. Tuy nhiên. bất cứ nền đạo lý nào, ở Âu Châu hay Á Châu, phương Đông hay phương Tây cũng đều khuyên răn con người “không được làm chứng gian,” hoặc "không được vọng ngữ."

Trong Luận Ngữ, cuốn sách ghi nhiều lời nói và kể nhiều câu chuyện về Khổng Tử, một học trò cùa ngài là Tăng Sâm nói về một phương pháp tu thân của mình: “Mỗi ngày tôi tự xét về mình ba điều. l.àm việc gì cho ai có hết lòng không? Giao thiệp với bạn bè có thành tín không? Thầy dạy điều nào có tập theo hay không?” (Luận Ngữ. thiên I, tựa là Học nhi, đoạn thứ tư). Phần thứ hai, “Dữ bằng hữu giao nhi bất Tín hồ?" nằm trong phần đạo đức cá nhân, cũng liên hệ tới phần thứ nhất, là “Vị nhân mưu nhi bất Trung hồ;” làm việc cho ai có hết lòng vì lòng Trung thành với họ hay không? Hai chữ Trung và Tín đi đôi vì khi làm nhận lời việc cho ai coi như người ta đã ký một giao ước, một hợp đồng, đó cũng là một lời hứa. Đó cũng là lời Khổng Tử nói với Tử Trương, một học trò khác: “Ngôn trung tín, hành đốc kính.” nghĩa là "Lời nói trung tín, làm việc hết sức với lòng kính trọng, không coi thường.” Tử Trương đã ghi câu nói của thầy vào giải áo để luôn ghi nhớ làm theo.

Tuy nhiên Khổng Tử quan tâm đến việc cai trị nhiều hơn, ngài thường đề cao chữ Tín trong cách cư sử của người "Quân Tử" đối với dân chúng. Chữ Quân Tử. nguyên nghĩa là “Con bậc vua chúa, vương." tức là giới quỷ tộc, những người làm việc cai trị dân; tuy nhiên sau này hai chữ đó được dùng dề nói về con người gương mẫu đang noi theo.

Khi trả lời một học trò là ông Tử cống về phương pháp cai trị. Khổng Tử có nói: "Dân không Tin thì không thể đứng vững;” Dân vô tín bất lập. (Luận Ngữ. Thiên XII, tựa là Nhan Uyên, đoạn số 7). Những chữ "Bất lập” ở đây cỏ thể hiểu là người cầm quyền, hoặc chế độ không thể đứng vững; cũng có thể hiểu là quốc gia không thể tồn tại độc lập được – nếu nhân dân không tin tưởng vào chế độ. Trong thiên Tử Trương sổ XIX, đoạn 10, một học trò là khác là Tử Hạ bàn rằng “Nguời Quân tử phải được dân tin rồi mới bắt dân làm việc (công cộng) được,.. phải được dân tin rồi mới can ngăn họ được;" (Tin nhi hậu lao kỳ dân. ... Tin nhi hậu gián ..." Một lần Khổng Tử nhắc đến chữ Tín như một đức tính cần thiết trong khuôn khổ việc cai trị. khi Tử Trương hỏi về đức tính Nhân. Ngài nói phải làm được năm điều trong thiên hạ thì mới đáng gọi là Nhân; đó là “Cung, Khoan. Tin, Mần. Huệ.” Và sau đó ngài giải thich thêm “Giữ được đức Tin thì được người ta tin tưởng (Tin tắc nhản nhiệm yên)”(Trong thiên XVII, Dương Hóa, đoạn số 6).

Khổng Giáo là một nền tư tưởng có tính chất xã hội nhất trong lịch sử nhân loại. Trong hai ngàn năm. ở Trung Quốc cùng như các nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam, Nho Giáo đã được dùng để dậy người ta cách ăn ở và đào tạo người cai trị, làm việc phục vụ xã hội chung quanh. Có thể nói Nho giáo là chất keo hàn gắn các xã hội Á Đông trong quá khứ.

Tuy Khổng Tử chỉ nói đến chữ Tín tương đối không nhiều lần trong Luận Ngữ, nhưng Nho Giáo đời sau đã chú trọng rất nhiều đến đức tính này trong việc rèn luyện học trò. Trong nền giáo dục Nho giáo Chữ Tín thường được ghép chung với chữ Nghĩa, là một từ bao gồm các bổn phận con nguời đối với xã hội. Phải được người khác tin, đó lả mội bổn phận khi sống với mọi người, các người đi học phải lập luyên chữ Tín.

Việc giáo dục đó thực hiện qua việc đề cao những tấm gương người tín nghĩa, qua việc kiểm soát các hành động của học trò xem có giữ đúng Tín Nghĩa hay không. Những phương pháp huấn luyện nảy dược truyền từ đời trước tới đời sau. rất có hiệu quả để tạo nên một truyền thống tôn trọng chữTin.

Như chúng ta đã biết, mặc dủ nền giáo dục Nho Giáo đã chấm dứt ở nước ta từ năm 1916, nhưng trong các gia đình có học cha mẹ vẫn dậy con theo tinh thần Khổng Giáo. Cho đến đầu thế kỷ 21 vẫn còn nhiều gia đình tiếp tục dậy con em các đức tính như Nhân Nghĩa, Trung, Tín. vân vân. Những người Việt dù không được đi học cũng vẫn thấm nhuần đạo lý Nho giáo nhờ một tập quán của dân Việt Nam là có lòng tôn kính những người có học và bắt chước cách cư xử của họ. Ngay trong các trường học dậy bằng tiếng Pháp, hoặc chữ quốc ngữ sau này, các giáo sư người Việt Nam khi vào lớp vẫn mang tinh thần của nền giáo dục Nho Giáo.

Vì vậy, hầu hết các huynh trưởng Hướng Đạo Việt Nam thuộc lớp dầu tiên thời 1930 đều được giáo dục tinh thần Nho Giáo, ngay trong gia đinh họ và trong trường học. Họ không phải học bằng sách vở, mà học qua cung cách cư xử hàng ngày, những lời khuyên bảo ngắn gọn của cha, mẹ thầy cô. Cho nên Hướng Đạo Việt Nam cũng đề cao chữ Tín. Không những thế, chúng ta thấy từ phương pháp, ngôn ngữ cho tới nghi lễ của Hướng Đạo Việt Nam cũng mang nặng ảnh hưởng của nền giáo dục nhà Nho. Điều này được thấy trò trong cách cảc Trưởng diễn tả bằng tiếng Việt l0 điều luật và ba lời hứa Hướng Đạo hoặc trong những bài hát, các nghi lễ khi sinh hoạt, vân vân. Chúng ta sẽ có dịp tìm hiểu thêm về các vấn đề này.

Sói Lịch –thiệp ĐỖ QUÝ TOÀN

Danh Mục TT:

Gửi nhận xét của bạn