Ý thức dân tộc

Sói Lịch-thiệp

ĐỖ QUÝ TOÀN

ĐOÀN KẾT ĐỂ SỐNG

Có thể đoán chắc chắn trong thời Bắc thuộc tổ tiên chúng ta đã có nhiều cơ hội cảm thấy họ thuộc vào một cộng đồng tưởng tượng, hình ảnh được Benedict Anderson dùng để nói về bản chất các dân tộc. Tổ tiên chúng ta, từ Giao Chỉ xuống Cửu Chân, Nhật

Nam, tự nhận ra họ có những điểm tương đồng, một tình liên đới ngày càng mật thiết, tự thấy họ khác hẳn đám quan quân nhà Hán đưa sang. Từ đó, họ ý thức mình là một dân tộc. Người Việt có thể hình dung một "cộng đồng tưởng tượng" giữa những người nói cùng một thứ tiếng, cùng theo một phong tục, cùng thờ cúng những thần linh riêng, vân vân. Một mạng lưới quan hệ hàng ngang đã thành hình gây nên tình đoàn kết, mỗi lần một người nổi lên thì muôn người hưởng ứng.

Giống như dân Canada hay xác nhận nước mình khác Mỹ, chắc từ hai ngàn năm trước dân Việt đã tự xác định trên căn bản là mình khác người Trung Hoa; không muốn giống, không muốn biến thành người Trung Hoa! Ý tưởng đó chắc có ngay từ khi hai nước mới tiếp xúc, càng mạnh thêm trong suốt một ngàn năm sau. Khi nhìn lại lịch sử Việt Nam, chúng ta thấy nước mình đủ các điều kiện trở thành một "dân tộc – quốc gia" như Renan hoặc Meinecke đã trình bầy. Có quá khứ chung, có ý chí sống chung, và có các yếu tố văn hóa, ngôn ngữ chung để nối liền với nhau. Điều quan trọng nhất là người Việt thấy nếu họ đoàn kết với nhau như một dân tộc thì tốt hơn, có lợi hơn là sống làm thần dân của một đế quốc Trung Hoa rộng lớn.

Ý thức dân tộc đã được đào luyện, được nung nấu trong thời Bắc thuộc do tất cả các thành tố tự nhiên: chủng tộc, ngôn ngữ, phong tục, tín ngưỡng. Mỗi yếu tố có lúc nặng, lúc nhẹ; nhưng luôn luôn cùng có mặt và hỗ trợ, thúc đẩy lẫn nhau. Ách đô hộ đã nung nấu ý thức của dân Việt ngày càng mạnh. Cho nên khi Lý Thường Kiệt tuyên bố "Nam Quốc" thuộc chủ quyền của "Nam Đế" thì tất cả mọi người Việt thấy đó là một sự

thật hiển nhiên, từ bao đời vẫn như vậy, không có gì nghi hoặc, cần bàn cãi nữa.
Trong sử sách, chúng ta chỉ "đọc" được các dấu hiệu ý thức dân tộc qua các biến cố lớn như các cuộc khởi nghĩa và qua hành động của các vị anh hùng. Còn người dân Việt bình thường thì sao? Phải tự hỏi trong một ngàn năm đô hộ người dân Việt đã cảm xúc và suy nghĩ thế nào; để có những lúc họ cùng nhau đứng lên đòi tự chủ? Tại sao bao nhiêu nông dân cũng dám đứng lên theo các lãnh tụ thuộc dòng dõi các lạc hầu, lạc tướng nổi loạn, dù họ phải hy sinh? Động cơ nào thúc đẩy mọi người kết hợp cùng nhau tranh đấu?
Muốn tạo nên một sức mạnh tập thể mà chúng ta gọi là ý thức dân tộc, người ta phải nối kết với nhau qua những liên hệ tình cảm. Sách sử Trung Hoa viết về nước ta không bao giờ mô tả các động cơ trong tình tự như thế, ngoài những chi tiết cho thấy người Việt đều uất hận vì quan lại tham tàn. Nhưng tình liên đới tập thể của tổ tiên chúng ta trong thời Bắc thuộc nuôi nấng như thế nào? Tại sao nhiều người sẵn sàng liều chết đứng dậy? Tại sao người ta tin tưởng vào các vị thủ lãnh, đến mức không sợ chết mà cũng không lo nếu

còn sống sẽ bị trừng phạt?
Suy nghĩ một cách thực tế, có thể giải thích tình liên đới và mối nhất tâm của dân

Việt trước hết vì tất cả được thúc đẩy bởi những những lợi ích kinh tế. Tinh thần yêu nước chắc chắn đã đưa tới nhiều hành động dũng cảm; nhưng nếu thấy rõ những động cơ kinh tế thì chúng ta hiểu được hành động của người xưa một cách chắc chắn hơn.
Người nghiên cứu kinh tế chỉ giả thiết rằng, khi tính về lâu về dài, ai cũng lo lợi ích cho bản thân và cho gia đình mình. Cũng như mối quan tâm chính của mọi sinh vật là lo cho giòng giống tồn tại; mệnh lệnh này đã được "viết" sẵn trong giên di truyền. Quyết định hợp lý của một đám đông, trong một thời gian lịch sử lâu dài, bao giờ cũng nhằm mục tiêu bảo tồn chủng loại. Mỗi cá nhân hầu như không ý thức về lựa chọn chung đó, nhưng tất cả mọi người trong một tập thể, sau cùng, sẽ đi tới những quyết định "hợp lý" nhắm giữ gìn nòi giống.

Loài người bắt đầu đoàn kết vì phải cùng nhau chế ngự thiên nhiên. Càng đoàn kết hơn khi phải chống lại những đám người khác giống đang đe dọa xâm lăng và tiêu diệt mình. Họ đứng lên chống cự đến cùng; với hy vọng là dù mình có chết thì một số người trong gia đình, trong họ hàng, làng xóm của mình vẫn còn sống, và dòng dõi được tiếp tục lưu truyền; theo bản năng sinh tồn và bảo vệ dòng giống. Ý chí đoàn kết của dân Lạc Việt chắc đã phát khởi lần đầu tiên khi nghe tin quân nhà Tần hoặc quân nhà Hán sắp xâm lăng. Dân chúng mọi nơi cảm thấy một tình liên đới mật thiết với nhau, phải cùng lo đề phòng và chống cự.

Đến lúc bị người nước ngoài thống trị, có lúc người dân Việt phải quyết định lựa chọn giữa hai tương lai. Một bên là chấp nhận tiếp tục bị quan lại phương Bắc bóc lột và đè nén không biết bao giờ mới hết. Bên kia là nổi dậy tranh đấu chấm dứt ách đô hộ, với hy vọng dù mình chết thì gia đình mình cũng còn được sống, sẽ thoát khỏi cảnh bóc lột. Lựa chọn hợp lý nhất là cùng nhau nổi dậy. Vì dù chỉ nuôi một chút hy vọng cũng còn hơn là tiếp tục cảnh sống tuyệt vọng không biết bao giờ thay đổi.

Khi đi theo các vị thủ lãnh nổi dậy, người dân cũng đứng trước những lựa chọn thực tế: Lật đổ những tham quan đang cai trị mình rồi thì sau đó những ông quan mới có tốt hơn, có tử tế hơn hay không? Trong những thời bên Tàu có loạn, nếu các viên quan cai trị ở Giao Châu tử tế, như Sĩ Nhiếp, Đào Hoàng, thì dân Việt cũng không nổi lên chống họ. Người Việt đã đứng lên đòi quyền tự chủ không phải chỉ vì họ ghét người Hán, mà vì họ thấy không thể sống mòn mỏi dưới chế độ tham tàn lâu hơn được. Hy vọng của họ là thay thế các viên thái thú, thứ sử bằng bất cứ chế độ mới nào cũng sẽ tốt hơn. Càng bị bóc lột, bị đàn áp, ý chí đó càng mạnh. Nhiều cuộc nổi dậy ở nước ta trong thời Bắc thuộc đã thất bại; nếu những người cầm đầu cho thấy họ cũng tàn nhẫn, ác độc. Thí dụ khi một thủ lãnh nổi loạn là Lương Thạc (năm 322) đem quân cướp bóc, trả thù các di dân người Hoa, thì sau cùng ông ta thất bại. Bởi vì chính đám di dân "người Hoa" này phần lớn cũng là người miền Nam Trung Quốc, họ đã hội nhập dễ dàng vào xã hội địa phương. Những cuộc khởi nghĩa thành công thường do những người đã được tiếng là nhân từ, biết thương người, biết bao dung, có thể tin tưởng. Chỉ cần người dân chịu đoàn kết là có thể cùng nhau khởi nghĩa. Nếu không được dân chúng theo thật đông đảo thì các vị anh hùng hào kiệt không thể nào kháng cự được quân giặc, hay gây dựng được cơ đồ.

Dân Việt ở miền sông Hồng dần dần chịu ảnh hưởng của người Hán nhiều hơn miền sông Mã, sông Chu. Quận Giao Chỉ bị áp lực Hán hóa mạnh hơn và sớm hơn. Các quận Cửu Chân và Nhật Nam sống xa trung tâm đô hộ, thì tinh thần phản kháng bền bỉ nhất. Nhưng người dân sống ở hai vùng sông Hồng và sông Mã cũng có lúc chứng tỏ họ vẫn đoàn kết; có lẽ động cơ mạnh nhất là tình máu mủ; nhưng cũng vì họ biết rằng mình "cùng chung một giàn," đều là nạn nhân của các quan lại tham tàn như nhau. Ngay cả những người được học chữ Hán, biết một lý tưởng, có thể coi như một "chủ nghĩa quốc tế" gọi là "Thiên hạ vi công" của Khổng Tử, họ cũng biết những lý thuyết trừu tượng đó không có giá trị gì so với tình máu mủ. Một giọt máu đào hơn ao nước lã. Những di dân từ miền Nam sông Trường Giang sang nước ta, sau vài thế hệ cũng chịu chung số phận bị bóc lột như những người dân bản xứ. Họ dần dần phát triển một quan hệ hàng ngang với dân địa phương trong cùng một cộng đồng tưởng tượng. Vì đám quan lớn từ Trung Quốc gửi sang thường là người phía Bắc Trường Giang, không cùng tiếng nói, không cùng tổ tiên, phong tục khác với đám di dân cũ. Mà khi bóc lột thì các tham quan sẽ thấy khai thác đám di dân giàu có sẽ nhiều lợi lộc nhất. Tình liên đới giữa các vùng thuộc nước Văn Lang cũ đã thể hiện rất rõ ngay trong thế kỷ thứ hai, chưa đầy một trăm năm sau khi Mã Viện đặt hệ thống cai trị trực tiếp và thay đổi phong tục, luật lệ của người Lạc Việt.

Năm 136, trong vùng sâu nhất của quận Nhật Nam, dân địa phương từ miền núi kéo xuống tấn công quân Hán đóng đồn tại Tượng Lâm, phía Nam Quảng Trị bây giờ. Thái thú Phan Diễn lúc đầu huy động hơn chục ngàn quân từ hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân, tính đưa đạo quân này vào đánh dẹp đám dân "phản loạn" ở phía cực Nam. Nhưng điều không ngờ là đám quân sĩ hai quận đó không những không chịu đi "đánh giặc;" mà sau cùng họ còn nổi lên, đốt phá các cơ sở chính quyền cai trị tại Giao Chỉ và Cửu Chân. Tại sao họ hành động như vậy? Có thể vì đa số đám quân này là người Việt được tuyển mộ, họ đã từ chối không đi giết "đồng bào" của mình. Hoặc những người Hoa đóng vai chỉ huy cấp giữa trong đó chính họ cũng bất mãn với đám quan lại bạo ngược, nên đã chọn đứng về phía dân bị trị.

Triều đình nhà Hán được báo nguy, tính gửi 40,000 quân từ bên Tàu sang trừng trị đám lính Giao Chỉ và Cửu Chân "bất phục tùng;" nhưng sau đó bãi bỏ; sử chép, vì ông vua nghe lời khuyên can của Lý Cố. Thay vì đem quân thảo phạt, nhà Hán cử một viên quan hiền lành hơn sang tìm cách phủ dụ quân lính và hối lộ, chia rẽ người địa phương, cho họ đánh lẫn nhau. Sự kiện hàng ngàn quân không chịu đi "dẹp loạn" cho thấy một tình liên đới đã thể hiện rõ rệt, một tình đoàn kết của dân Việt, từ miền Giao Chỉ phía Bắc xuống Cửu Chân, tới Nhật Nam. Kết quả là triều đình nhà Hán phải thay đổi những quan lại hà khắc. Kinh nghiệm này thúc đẩy cho tình liên đới và đoàn kết của người dân lên cao hơn. Các đám quân nhân còn nổi loạn rất nhiều lần trong những thế kỷ sau, cho thấy sự cách biệt giữa các quan lại do triều đình nhà Hán ở Trường An (thuộc Thiểm Tây ngày nay) cử sang và các binh sĩ gốc từ các vùng khác ở Trung Quốc; chính "quê hương" của họ cũng bị quân Hán chiếm đóng. Tám năm sau cuộc nổi dậy ở Tượng Lâm, năm 144 dân Nhật Nam lại nổi lên chiếm các thành trì. Điều đáng kể là sau đó, dân Cửu Chân và Giao Chỉ cũng nổi lên theo. Có thể tưởng tượng trong thời gian giữa hai cuộc nổi loạn này, tổ tiên chúng ta ở hai vùng sông Mã và sông Hồng đã cảm nhận rõ ràng là số phận của họ gắn liền với nhau, chịu chung những tai họa do bọn tham quan nhà Hán gây ra; chỉ đoàn kết lại mới có thể đòi thay đổi. Mối liên cảm này đã ăn sâu vào tâm thức, được tích lũy với những kinh nghiệm sống, bồi đắp nên ý thức dân tộc.

Không cần làm vương đất Bắc.

Ý thức dân tộc của người Việt cũng được củng cố nhờ địa giới thiên nhiên vạch ra một vùng đất riêng có thể gọi là "nước ta," tách biệt với các vùng phương Bắc. Trong phạm vi lãnh thổ đó, điều kiện kinh tế lại đủ tự túc, không tùy thuộc bên ngoài. Vùng đất riêng này lại tụ tập những người thuộc một sắc dân tương đối thuần nhất và đông đúc, nhờ thế họ có khả năng đồng hóa cả các di dân. Nhờ dân số và kinh tế đủ vững nên, trong các giai đoạn tự lập, những người cầm đầu, dù là các thủ lãnh địa phương hay các quan lại tự chiếm quyền, đều chỉ lo xây dựng lãnh địa riêng của mình, không muốn bành trướng lên phía Bắc. Sau những cuộc khởi nghĩa giành quyền tự chủ các lãnh tụ người Việt thành công đã chấp nhận chỉ làm chủ một vùng gồm những người cùng sắc tộc; họ không tìm cách mở bờ cõi qua các vùng phía Bắc. Cứ như thế nhiều lần, dân ta đã xác định một ranh giới ở trong châu Giao cũng là vùng thuộc nước Văn Lang cũ, tách khỏi Quảng Châu và Hợp Phố. Ranh giới đó tạo ra một khuôn khổ địa dư trong đó ý thức dân tộc được tập trung mà phát triển. Người Việt không bị phân tán như các sắc dân bên kia biên giới. Ở bên đó, sau các cuộc nổi dậy ở Hồ Nam, Quảng Đông, Vân Nam, Phúc Kiến, Quế Châu, người dân vẫn không tạo được một ý thức thấy coi họ là những cộng đồng riêng biệt.

Cần phân tích sự khác biệt giữa các tỉnh phía Nam Trung Quốc với nước ta để hiểu tại sao các thủ lãnh người Việt nổi lên thường không nuôi tham vọng vượt ra ngoài lãnh thổ. Nói chung, trong các tỉnh miền Hoa Nam các sắc dân sống bên nhau không thuần nhất như dân Lạc Việt mà họ bị áp lực di dân miền Bắc mạnh hơn. Trên địa bàn rộng lớn của mỗi tỉnh, dân bản địa thuộc nhiều sắc tộc với số đông ngang ngửa với nhau. Miền đất này lại tiếp nhận rất nhiều đợt di cư lớn của người Hán từ phương Bắc xuống; trong khi số di dân xuống tới ở vùng sông Hồng, sông Mã thưa thớt hơn. Đám di dân mới đến các tỉnh trên là một nhân tố giúp thống nhất nước Trung Hoa. Hhọ thường sống ở vùng đồng bằng; dần dần họ chiếm đa số ở những nơi mà quan lại cũng là người phương Bắc. Thủ lãnh của các sắc dân cũ bị mất quyền, không chịu hợp tác thì rút lên miền núi, mang theo nhiều người cùng sắc tộc; trên vùng đất còn lại ảnh hưởng của đám di dân mới càng mạnh hơn. Chính đám di dân từ phía Bắc đi xuống cũng không thuần nhất. Người dân các tỉnh Hà Bắc, Sơn Tây, thuộc các nước Ngụy, nước Triệu đời xưa; ngôn ngữ và lối sống cũng khác với người vùng Sơn Đông từng thuộc các nước Lỗ, nước Tề. Các di dân vốn không chia sẻ quá khứ chung. Tiếng nói lại bất đồng. Vì thế họ phải tìm tới một ngôn ngữ chung để thông tin, lấy chữ Hán làm tiêu chuẩn, và dùng một thổ âm chính miền Bắc khi đọc chữ. Nhờ chữ viết và ngôn ngữ chung này, các di dân từ Hoa Bắc nguồn gốc khác nhau bắt đầu chia sẻ một văn hóa cùng với các quan lại cũng xuất phát từ phía Bắc. Qua nhiều thế kỷ, họ trở thành một thứ keo sơn gắn liền các vùng rải rác trong miền Nam Trung Quốc. Các di dân đó tạo ra một sức kéo hướng về trung tâm, giúp cho nước Trung Hoa có lúc phân ly nhưng cuối cùng vẫn kết hợp với một văn hóa thuần nhất. Họ phổ biến những quy củ văn minh Hoa Hạ, tạo nên môi trường sống chung đó. Các di dân và quan lại huấn luyện theo Nho Giáo cùng nhau nâng cao cường độ và tốc độ của việc Hán hóa.

Trong lịch sử Trung Quốc mỗi lần trung tâm suy yếu thì khuynh hướng ly khai lại nổi lên. Nói như câu mở đầu tiểu thuyết Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa: "Thiên hạ tan rồi lại hợp, hợp rồi lại tan." Khi hai triều đại nhà Hán, nhà Đường suy vi, các thủ lãnh địa phương đứng lên tự lập thành những quốc gia riêng. Các tỉnh Hồ Nam, Phúc Kiến, Quảng Đông, Vân Nam đều trải qua những giai đoạn có người xưng hùng xưng bá như vậy. Nhưng vì người dân ngay trong địa phương của họ cũng không thuần nhất cho nên các chính quyền mới lập ra cũng không đại diện cho riêng một sắc dân nào đủ lớn để đóng vai làm trung tâm thu hút các nhóm dân khác. Chính các thủ lãnh cũng không thấy có mối ràng buộc nào với đám dân chúng phức tạp dưới quyền, về ngôn ngữ cũng như chủng tộc. Sau khi cướp chính quyền, xưng vương, xưng đế, các tay lãnh tụ thường nuôi tham vọng lớn lao hơn là chỉ đứng đầu một vương quốc. Nhiều người nổi lên ở Quảng Đông hay Vân Nam nhưng không thấy thỏa mãn với việc giành độc lập cho một vùng nho nhỏ. Phần lớn còn muốn chiếm cả nước Trung Hoa, hay ít nhất cũng làm chủ một vùng rộng lớn hơn một châu, một quận. Thí dụ sớm nhất là ông Triệu Đà. Lúc nhà Tần suy vong, ông chiếm vùng Lưỡng Quảng xưng là hoàng đế nước Nam Việt. Nhưng ông vẫn tỏ ý tiếc rằng khi nhà Tần sụp đổ thì mình vắng mặt, không khởi nghiệp ở Trung Nguyên để tranh tài với Hạng Võ, Lưu Bang, có thể làm chúa tể Thiên Hạ! Nhiều đời sau cũng vậy, mỗi khi dân một vùng nổi lên giành được quyền tự chủ, thì chính các tay hào kiệt lại nuôi tham vọng thiết lập triều đình lớn hơn. Sau đời nhà Hán, các triều đại thời Tam Quốc và nhà Tấn tiếp nối cai trị miền Nam Trung Quốc đều ngắn ngủi, từ năm 220 đến 316. Nhà Ngô (222 – 280), nhà Tấn rồi nhà Đông Tấn (256 – 420), trong thực tế cũng không hoàn toàn làm chủ hết lãnh thổ của họ. Vì luôn luôn có người xưng hùng tại các địa phương, thiết lập "Triều đình riêng một góc trời – Gồm hai văn võ vạch đôi sơn hà," như Nguyễn Du tả Từ Hải, một tướng cướp vùng biển đời nhà Minh. Trong thời Nam Bắc Triều nước Tầu bị chia đôi (317 – 580). Từ năm 420 đến 588 có bốn triều đại thay phiên nhau ở các tỉnh sát biên giới nước ta: Tiền Tống, Nam Tề, Lương, Trần. Cuối đời Tùy và trước đời Đường, một vùng từ Giang Tây xuống Quảng Đông cũng lập một quốc gia riêng. Tiếp đến vùng Hồ Nam cũng có người nổi lên lập một triều đình, hai ông vua đánh lẫn nhau. Dân chúng bên dưới không thấy có sợi dây nào nối kết họ với các tay hào kiệt nổi lên xưng hùng đó; mà chính họ cũng không thấy tình liên đới với nhau, như dân Việt ở phía Nam.

Trong thế kỷ thứ 8, thứ 9 nhà Đường suy yếu,

loạn lạc không ngừng; hào kiệt nổi lên cát cứ khắp nơi. Ngay phía Bắc nước ta, một thủ lãnh Nam Chiếu được nhà Đường công nhận phong làm Vân Nam Vương nhưng chưa thỏa mãn, đem quân chiếm thêm các vùng khác, từ Tứ Xuyên, Thiểm Tây, sang đến cả Giao Châu. Khi Trần Bá Tiên lập nhà Trần hoặc họ Lưu lập nước Nam Hán ở vùng Lưỡng Quảng, họ đều đi chiếm thêm đất để bành trướng lãnh thổ. Các triều đại nhỏ này cuối cùng đều sụp đổ; biên cương lãnh thổ của họ cũng xóa nhòa. Sau cùng tất cả lại thu vào trong nước Trung Hoa rộng lớn.

Tham vọng luôn luôn muốn bành trướng của những vương triều kể trên có thể vì ảnh hưởng khái niệm "Thiên Hạ là của chung." Quan niệm này vẫn được các hoàng đế tuyên dương, được giới Nho sĩ duy trì và truyền bá. Các Nho sĩ luôn đóng vai quân sư hay làm thủ hạ cho các lãnh tụ nổi lên, lúc họ có nhu cầu thiết lập guồng máy cai trị. Những người Hán được cử tới làm quan, và các di dân đã được học Nho Giáo, đều truyền bá mục tiêu Bình Thiên Hạ, các tay hào kiệt mới nổi lên đã thấm nhiều đời. Chính những người mộ quân, chiếm thành, lập quốc cũng không thấy nhu cầu gây ý thức dân tộc cho các đám dân sống dưới quyền họ. Họ không tự ràng buộc với một sắc dân nào, vì trong đầu, họ nuôi tham vọng chiếm tất cả thiên hạ. Các ông vua lập ra nhà Lương, nhà Trần, các nước Nam Tề, Nam Hán đều có mộng lớn thống lãnh cả Trung Quốc chứ không phải giành độc lập cho một sắc dân, một vùng nào; họ không cần gây ý thức dân tộc. Qua bao nhiêu lần đổi chủ, các vương quốc hợp rồi lại tan, những sắc dân đa tạp ở Vân Nam hay Lưỡng Quảng không nuôi được một ý thức dân tộc. Họ không đủ thời gian lâu dài để chia sẻ chung một quá khứ; mà họ cũng không được tự do để nghĩ đến việc xây dựng một tương lai chung; hai điều kiện của Renan.

Các dân tộc cần một vùng đất vừa đủ khép kín để tự xác định như một di sản, và cần thời gian đủ dài để có cơ hội nuôi dưỡng tinh thần liên đới, gây ý thức tập thể. Ý thức dân tộc phải có cơ hội được nung nấu cho chín mùi trong nhiều thế kỷ. Tổ tiên người Việt Nam may mắn có thời gian, không gian và cơ hội nuôi dưỡng những ý tưởng như vậy. Người Việt sống trong môi trường và hoàn cảnh khác dân các tỉnh phía Nam Trung Quốc. Dân Việt tương đối thuần nhất hơn, địa bàn sống vừa nhỏ, chung quanh núi rừng cùng biển cả ngăn cách và bảo vệ. Trong một ngàn năm Bắc thuộc có rất nhiều thời kỳ người Việt được sống tách riêng ra khỏi đế quốc Trung Hoa; nhưng các anh hùng lập quốc ở nước ta, từ Lý Bôn cho tới Ngô Quyền, thường khiêm tốn, an phận hơn. Họ không nuôi tham vọng bên ngoài địa giới nước mình, cho tới các đời sau cũng vậy. Thử tưởng tượng nếu các vị vua đầu triều đại nhà Tiền Lê, nhà Lý, sau khi đánh đuổi được quân nhà Tống mà lại muốn chiếm luôn châu Ung, châu Liêm hay một vùng phía dưới Vân Nam để tạo thành một quốc gia lớn hơn, thì chắc số phận dân Việt phải khác. Họ không có tham vọng đó vì những người đi trước, từ Lý Bôn đến Ngô Quyền đã như vậy. Có phải vì các vị anh hùng nước ta không có cao vọng bằng các "hảo hán" phương Bắc hay không? Có phải vì họ quen sống lối "nhà quê, dân tỉnh lẻ," nên không dám nuôi mộng lớn hay không? Có thể. Nhưng tại sao các anh hùng người Việt lại khiêm tốn như thế? Cái gì tạo cho họ thói quen này, từ thời Lý Bôn đến Ngô Quyền vẫn không đổi?

Người Việt Nam còn nhớ câu Trần Bình Trọng nói: "Thà làm quỷ nước Nam còn hơn làm vương ở đất Bắc." Lời nói này biểu lộ một thứ tình cảm gắn chặt với mảnh đất mình đang sống. Làm vương đất Bắc là một vinh dự nhiều người thèm muốn. Là một hứa hẹn thăng tiến hiếm có trong đời; đáng lẽ ai cũng phải ham. Các anh hùng hào kiệt nước ta không nuôi tham vọng đó. Vì trong lòng, họ chỉ muốn dính liền với làng xóm, với gia đình, nơi chôn nhau cắt rún. Với mồ mả tổ tiên và những người ruột thịt. Chúng ta có thể đoán sau khi đã cùng sống trong hoạn nạn chung qua nhiều thế kỷ, một thứ tình "yêu nước thương nòi" đã được nung nấu; là mầm mống cho tình tự và ý thức dân tộc. Các vị anh hùng "cứu nước" như Thánh Gióng, Bà Triệu, Triệu Quang Phục, Phùng Hưng, cả Lữ Gia, đều được dân lập đền thờ. Các nữ tướng của Hai Bà Trưng được tôn làm thần hoàng; một ông tướng Lý Phục Man thời Lý Bôn được nhiều làng thờ phụng. Đó là những chứng tích của một ký ức tập thể xây dựng trong ngàn năm Bắc thuộc, tạo nên một cộng đồng dân tộc.
Nhờ ý thức dân tộc và ý chí tự chủ được rèn luyện trong ngàn năm Bắc thuộc, sau này dân Việt Nam tiếp tục giữ tinh thần quật cường, bất khuất; cho nên Vương Thông, viên chỉ huy quân Minh xâm chiếm nước ta vào thế kỷ 15 đã từng viết mật báo về triều đình, nói thật rằng xem tình hình nước Nam thì, "Có chiếm được cũng không giữ nổi" (Túng đắc chi, bất khả thủ chi - Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Kỷ Nhà Lê).

Trong một ngàn năm, người dân Việt sẵn sàng đứng lên trong những cuộc vận động, tranh đấu đòi tự chủ, trước hết là vì không chịu nổi ách đô hộ của người phương Bắc. Họ hy vọng nếu chống xâm lăng hoặc lật đổ cường quyền thì có thể thay đổi cuộc sống của những người cùng máu mủ. Sau nhiều thế kỷ, ý thức này được nuôi dưỡng đưa tới quyết tâm phải tách riêng. Họ tin tưởng rằng mình có khả năng thực hiện ước vọng này vì theo kinh nghiệm của các giai đoạn tự chủ ngắn hạn, dân Giao Châu đã từng sống tự lập. Những cuộc nổi dậy thành công trong một thời gian kéo dài cả một thế hệ, cũng như những giai đoạn mà Giao Châu sống dưới các viên quan tự trị, bình an không bị triều đình phương Bắc can thiệp, đã tích tụ thành những kinh nghiệm sống được lưu giữ trong ký ức chung, gieo rắc niềm hy vọng xây dựng một quốc gia độc lập. Chính ý chí tự lập được nung nấu qua nhiều thế hệ đã dẫn tới nước Việt Nam độc lập vào thế kỷ thứ mười.

Sói Lịch-thiệp ĐỖ QUÝ TOÀN

Danh Mục TT:

Gửi nhận xét của bạn